CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ĐẢNG BỘ TỈNH BÌNH ĐỊNH

Kinh tế
Phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội: Cơ hội, yêu cầu và thách thức
Thứ năm 03/03/2022 08:43

Ngày 30/1/2022, Chính phủ đã thông qua Nghị quyết số 11/NQ-CP về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội và triển khai Nghị quyết số 43/2022/QH15 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội (Chương trình). Chương trình được thiết kết trên nguyên tắc nhằm tác động cả phía cung và phía cầu; có mục tiêu trọng tâm, trọng điểm, để giải quyết những vấn đề cấp bách, không dàn trải, có thời hạn - thực hiện chủ yếu trong 2 năm 2022 và 2023.

SỰ HỖ TRỢ CẦN THIẾT VÀ CẤP BÁCH

Dịch bệnh COVID-19 khiến cho tăng trưởng kinh tế của nước ta giai đoạn 2020-2021 ở mức rất thấp trong nhiều năm trở lại đây. Suy giảm ở cả 3 khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Suy giảm tăng trưởng, chậm phục hồi sẽ dẫn đến nhiều vấn đề về kinh tế và an sinh xã hội: doanh nghiệp giải thể, phá sản, kinh tế không phát triển, đời sống người dân khó khăn, thất nghiệp, mất việc làm... Cùng với đó là những hệ lụy như tội phạm, bất ổn xã hội, suy thoái kinh tế theo phản ứng dây chuyền.

Dịch COVID-19 cũng làm bộc lộ một số điểm yếu của xã hội như năng lực y tế, lao động, việc làm, phát triển bền vững... đòi hỏi phải được khắc phục ngay.

Do vậy, sự hỗ trợ của nhà nước cho doanh nghiệp, nền kinh tế và xã hội là cần thiết và cấp bách. Theo tính toán của Chính phủ, nếu không có các giải pháp hỗ trợ nền kinh tế, dự báo tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2025 chỉ đạt 5,4%/năm, thấp hơn đáng kể so với mục tiêu đặt ra (6,5-7%/năm); nguy cơ tụt hậu so với khu vực và thế giới là rất lớn.

Ở phạm vi toàn cầu, trước những tác động tiêu cực của dịch COVID-19, các quốc gia đã sử dụng đồng bộ nhiều giải pháp về tài khóa và tiền tệ để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân, với quy mô nguồn lực khác nhau, phù hợp với môi trường thể chế và khả năng huy động nguồn lực.

Trong bối cảnh nêu trên, Quốc hội nước ta đã họp phiên bất thường và thông qua Nghị quyết 43/2022/QH15 ngày 11/1/2022 về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Ngay sau đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 30/1/2022 về Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHƯƠNG TRÌNH

Xét về quy mô, tổng mức hỗ trợ tài khóa, tiền tệ và các hỗ trợ khác của Chương trình vào khoảng 346.800 tỷ đồng, tương đương 4,24% GDP. Trước khi có Chương trình này, trong năm 2021, nhiều chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ người dân và doanh nghiệp đã được thực hiện, với tổng quy mô các chính sách chi hỗ trợ từ tài khóa và ngoài tài khóa là 269.464 tỷ đồng, tương đương 3,2% GDP.

Tính tổng cộng các chính sách tài khóa, tiền tệ với Chương trình hỗ trợ phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội thì tổng hỗ trợ ở nước ta cho đến nay vào khoảng 7,44% GDP.

Tính chung trên bình diện quốc tế, quy mô các giải pháp hỗ trợ tài khóa và tiền tệ ở các nước phát triển lần lượt khoảng 10,9% GDP và 8,6% GDP; các nước mới nổi là 4,3% GDP và 3,4% GDP; các nước thu nhập thấp (trong đó có Việt Nam) là 3,2% GDP và 0,7% GDP. Một số nước xung quanh cũng đã ban hành hỗ trợ tương tự với quy mô khác nhau: Thái Lan tương đương 15% GDP, Malaysia 8,8% GDP, Indonesia 5,4% GDP, Trung quốc 6,1% GDP… So sánh quốc tế và khu vực, thì Chương trình của nước ta có quy mô tương đối lớn, phù hợp tình hình - hoàn cảnh trong nước với yêu cầu kiểm soát rủi ro vĩ mô.

Xét về mục tiêuChương trình nhằm giảm chi phí, hỗ trợ dòng tiền, bảo đảm tính chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế; phòng, chống dịch COVID-19 hiệu quả; bảo đảm an sinh xã hội và đời sống của người dân góp phần phục hồi, phát triển nhanh hoạt động sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy các động lực tăng trưởng, ưu tiên một số ngành, lĩnh vực quan trọng, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 6,5 - 7%/năm giai đoạn 2021-2025. Chương trình được thiết kết trên nguyên tắc nhằm tác động cả phía cung và phía cầu; có mục tiêu trọng tâm, trọng điểm, để giải quyết những vấn đề cấp bách, không dàn trải, có thời hạn nhằm thực hiện chủ yếu trong 2 năm 2022 và 2023.

Về nội dung, Chương trình đã đưa ra 5 nhóm giải pháp lớn và nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, bao gồm: 1) Mở cửa nền kinh tế gắn với đầu tư nâng cao năng lực y tế, phòng, chống dịch bệnh. Nhóm giải pháp này gồm 3 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể; 2) Bảo đảm an sinh xã hội và giải quyết việc làm. Nhóm này gồm 07 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể; 3) Hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh. Nhóm này gồm 8 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể; 4) Đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng. Nhóm này gồm 3 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể; 5) Cải cách thể chế, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Nhóm này gồm 5 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.

Về phân bổ nguồn lực thực hiện Chương trình, trong số 240.000 tỷ hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách Nhà nước, có 64.000 tỷ hỗ trợ giảm thuế, phí, lệ phí; 176.000 tỷ hỗ trợ đầu tư, phát triển; 6.600 tỷ       hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động; 135.000 tỷ gia hạn thời hạn nộp thuế, tiền thuê đất; 38.400 tỷ     tăng hạn mức bảo lãnh Chính phủ đối với trái phiếu phát hành trong nước cho Ngân hàng Chính sách xã hội; 46.000 tỷ nhập khẩu vaccine, thuốc điều trị và thiết bị, vật tư y tế phục vụ phòng, chống dịch COVID-19 trong trường hợp cần thiết; 5.000 tỷ phát triển hạ tầng viễn thông, internet, trong đó sử dụng tối đa 1 nghìn tỷ đồng để trang bị máy tính bảng thực hiện Chương trình “Sóng và máy tính cho em” (Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích Việt Nam); 5.000 tỷ hỗ trợ đổi mới công nghệ, ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; giải mã công nghệ; mua thiết bị, máy móc, nguyên vật liệu cho đổi mới công nghệ, phục vụ trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

CƠ HỘI CỦA CHƯƠNG TRÌNH CHO NỀN KINH TẾ VÀ DOANH NGHIỆP

Như đã nêu, đây là cơ hội để khôi phục nhanh chuỗi sản xuất, cung ứng, lao động, thúc đẩy các động lực tăng trưởng, phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân 6,5 - 7%/năm giai đoạn 2021-2025. Theo tính toán của Chính phủ khi trình Quốc hội thông qua Nghị quyết về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình, việc thực hiện Chương trình được dự báo góp phần tăng trưởng GDP thêm khoảng 2,9% trong năm 2022 và 0,2% trong năm 2023, tạo điều kiện hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 6,5 - 7%/năm trong giai đoạn 2021-2025; bảo đảm ổn định việc làm, thu nhập cho người lao động, giữ tỷ lệ thất nghiệp ở mức ổn định khoảng 2-3%.

Theo dự báo của TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện đào tạo và nghiên cứu BIDV(1)Chương trình sẽ tác động đến cả phía cung và phía cầu, góp phần khôi phục và thúc đẩy các hoạt động đầu tư, sản xuất và tiêu dùng, theo 2 kịch bản: Kịch bản 1 - thực hiện hiệu quả: các gói hỗ trợ được giải ngân đạt khoảng 40% năm 2022 và 50% năm 2023; Kịch bản 2 - thực hiện kém hiệu quả: việc giải ngân chậm so với dự kiến, tỷ lệ giải ngân thấp chỉ đạt 30% năm 2022 và 40% năm 2023. 

Ngoài ra, Chương trình còn có tác động khác và dài hạn đến nền kinh tế như: Góp phần cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, năng suất lao động, sức cạnh tranh, nâng cao năng lực nội tại, tính tự chủ của nền kinh tế; không để lỡ nhịp với đà phục hồi kinh tế của khu vực và thế giới, nhất là những đối tác lớn của ta; góp phần tạo việc làm, hỗ trợ người lao động tìm kiếm việc làm, đào tạo, đào tạo lại, từ đó tạo ra thu nhập và chuyển đổi nghề bền vững cho người lao động; bảo đảm an sinh, an ninh và trật tự an toàn xã hội…

Đối với doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh, Chương trình còn có tác động tích cực kép, đó là cơ hội nhận hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp. Hỗ trợ trực tiếp tập trung nhiều vào cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp và tạo điều kiện nguồn vốn cho doanh nghiệp, bao gồm giải pháp cắt, giảm thuế, phí, lệ phí cho doanh nghiệp, hỗ trợ lãi suất, cho vay ưu đãi… Hỗ trợ này tác động trực tiếp đến các doanh nghiệp, người lao động và chủ thể khác là đối tượng hưởng lợi trực tiếp. Các tác động gián tiếp được tạo ra chính là cơ hội kinh doanh tốt hơn cho mọi doanh nghiệp. Ví dụ, cải cách thể chế sẽ tạo thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh (nhanh hơn, thuận lợi hơn). Mở cửa nền kinh tế chính là khôi phục lại cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp. Phát triển kết cấu hạ tầng không chỉ là cơ hội kinh doanh mà còn tạo ra hạ tầng thuận tiện cho toàn bộ hoạt động đầu tư kinh doanh, cả ngắn hạn và dài hạn… Đặc biệt, cơ hội gián tiếp dành cho mọi đối tượng doanh nghiệp, bao gồm cả doanh nghiệp không thuộc phạm vi trực tiếp nhận hỗ trợ của Chương trình.

''Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2021: Phục hồi và Phát triển bền vững''ngày 5/12/2021

 DỰ BÁO THÁCH THỨC VÀ YÊU CẦU THỰC HIỆN THÀNH CÔNG CHƯƠNG TRÌNH

Thực hiện thành công, hiệu quả, khả năng hấp thụ của Chương trình là thách thức lớn nhất được tính đến trong suốt quá trình thiết kế, xây dựng và thời gian tới là tổ chức triển khai thực hiện Chương trình. Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh, gói hỗ trợ gần 350 nghìn tỷ đồng nếu dùng không đúng, không trúng sẽ gây lãng phí nguồn lực và có lỗi với người dân(2). Do đó, các cơ quan chịu trách nhiệm thực thi, giám sát và đối tượng thụ hưởng cần lưu ý một số yêu cầu sau đây để nhằm thực hiện thành công Chương trình.

Thứ nhất, khẩn trương, kịp thời hiện thực hóa các hỗ trợ đến tay người dân và doanh nghiệp.

Trong quá trình xây dựng và thiết kế Chương trình, nhiều chuyên gia cho rằng, việc sớm ban hành và kịp thời thực hiện Chương trình là rất quan trọng - đóng góp vào quá trình phục hồi kinh tế. Kinh nghiệm trong triển khai các chính sách hỗ trợ trước đây giúp Quốc hội và Chính phủ nhận thức rất rõ thách thức này. Quốc hội và Chính phủ đã rất nỗ lực và đã kịp thời xây dựng và ban hành Chương trình. Quốc hội đã tổ chức kỳ họp bất thường, chưa có tiền lệ để thông qua các chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình, trong đó đã xác định rõ yêu cầu: chính sách, giải pháp hỗ trợ phải khả thi, kịp thời, hiệu quả, thời gian thực hiện chủ yếu trong 2 năm 2022 và 2023; nguồn lực đưa ra có khả năng giải ngân, hấp thụ nhanh. Nghị quyết của Quốc hội đã quy định một số cơ chế đặc thù để nhằm giải pháp hỗ trợ nhanh chóng được triển khai và hoàn thành. Chính phủ đã rất khẩn trương và sớm ban hành Chương trình ngay sau khi Quốc hội thông qua chính sách tài khóa, tiền tệ.

Đến thời điểm hiện nay đã có một số hỗ trợ đã được thực thi, như: giảm thuế VAT, giảm thuế trước bạ ôtô… nhưng cũng còn nhiều hỗ trợ đang trong quá trình thể chế hóa, xây dựng hướng dẫn, chưa được hiện thực hóa, như: hỗ trợ lãi suất, hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động, gia hạn thuế và thuê đất, danh mục dự án đầu tư hạ tầng…

Do đó, việc sớm hoàn thành các hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục, điều kiện hỗ trợ để hiện thực hóa hỗ trợ đến người lao động, doanh nghiệp vừa là yêu cầu nhưng cũng đang là một thách thức. Sự khẩn chương, quyết liệt, tích cực của các cơ quan, tổ chức có liên quan là giải pháp duy nhất.

Thứ hai, hiệu quả, khả năng hấp thụ, tránh dàn trải, lãng phí nguồn lực là những yêu cầu quan trọng để giúp đạt mục tiêu phục hồi, phát triển nhanh sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng.

Để đáp ứng yêu cầu này, trong triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ của Chương trình cũng có những thách thức. Một số hỗ trợ có phạm vi đối tượng rộng với nhu cầu hỗ trợ khác nhau, chẳng hạn như hỗ trợ 2%/năm lãi suất thông qua hệ thống ngân hàng thương mại hay hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng. Việc làm thế nào để các doanh nghiệp tiếp cận công bằng các khoản vay có hỗ trợ lãi suất cũng như lựa chọn đúng, hợp lý danh mục dự án đầu tư cơ sở hạ tầng… cũng là một nhiệm vụ không dễ dàng. Để đáp ứng yêu cầu này và vượt qua thách thức, các cơ quan thực thi nên xem xét và bám sát một số nguyên tắc như: 1) Bám sát vào các tiêu chí phân bổ nguồn lực trong Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, để từ đó xác định đối tượng hỗ trợ cũng như quy định trình tự, thủ tục và điều kiện tiếp nhận hỗ trợ. Ví dụ, cần bán sát vào 4 nguyên tắc, tiêu chí lựa chọn và phân bổ vốn cho các dự án thuộc Chương trình trong Nghị quyết 43 của Quốc hội. 2) Các điều kiện, trình tự, thủ tục để phân bổ và tiếp nhận các hỗ trợ phải được thiết kế đơn giản, phù hợp, công bằng và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ. 3) Công tác thông tin kịp thời, đầy đủ và toàn diện về nội dung Chương trình cho rộng khắp đối tượng có liên quan là rất quan trọng. Các cơ quan có liên quan cần nghiên cứu, xây dựng cơ chế hỗ trợ thiết thực, hiệu quả cho đối tượng thuộc Chương trình để đảm bảo việc tiếp cận dễ dàng, công bằng (đường dây nóng, tổ giải đáp, hỗ trợ, cơ chế ghi nhận và giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc phát sinh trên thực tế). Gắn kết sự tham gia tích cực của các hiệp hội doanh nghiệp.

Thứ ba, công khai, minh bạch vừa là giải pháp vừa là yêu cầu để nâng cao hiệu lực, hiệu quả và hoàn thành mục tiêu Chương trình.

Nghị quyết của Quốc hội đã xác định rõ nguyên tắc thực hiện Chương trình phải đảm bảo cân đối hợp lý giữa các vùng, miền, địa phương, lĩnh vực, đối tượng ưu tiên; chống tiêu cực, tham nhũng, lợi ích nhóm, trục lợi chính sách; bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch(3). Các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ cũng đã đưa ra nhiều giải pháp để đảm bảo công bằng, minh bạch và chống trục lợi chính sách, như: đề cao trách nhiệm, nhất là trách nhiệm người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức, triển khai thực hiện Chương trình; tuyệt đối không để xảy ra tình trạng “xin-cho”, gây khó khăn, phiền hà, tiêu cực đối với người dân, doanh nghiệp; chủ động phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan xử lý những vướng mắc phát sinh; thường xuyên giám sát, kiểm tra, đôn đốc, có biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với tập thể, cá nhân gây khó khăn, nhũng nhiễu người dân và doanh nghiệp, trì trệ, thiếu trách nhiệm trong thực thi công vụ,...

Tăng cường tính công khai, minh bạch có ý nghĩa lớn đóng góp vào nâng cao hiệu quả của Chương trình. Đây cũng là giải pháp hiệu quả để hạn chế tối đa những lo ngại về tiêu cực trong thực hiện Chương trình. Công khai, minh bạch sẽ giúp các bên có cơ hội tốt hơn trong đóng góp ý kiến, giám sát thực thi hiệu quả hơn.

Để Chương trình thực sự là “phao cứu sinh” phục hồi và vực dậy nền kinh tế, đòi hỏi nỗ lực của tất cả các bên, từ Nhà nước đến người dân và doanh nghiệp. Bản thân mỗi doanh nghiệp trước hết tự thay đổi để thích ứng với thay đổi trong bối cảnh mới. Doanh nghiệp cần năng động, chủ động, sáng tạo hơn, quản trị tốt hơn để thích ứng tốt hơn với xu hướng kinh doanh mới, thói quen tiêu dùng mới và công nghệ mới. Việc thực hiện Chương trình phải gắn chặt với các chương trình, nhiệm vụ khác, như kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế, chiến lược tổng thể phòng chống dịch COVID-19, chương trình cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh… Mong rằng, tinh thần khẩn trương, quyết liệt, hành động sẽ chi phối hoạt động của Chính phủ và cả Quốc hội từ nay trở đi và trở thành việc bình thường. Như vậy sẽ làm gia tăng thêm tác động và hiệu quả của Chương trình cả trong ngắn hạn và dài hạn./.

Phan Đức Hiếu
Ủy viên thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội

Nguồn Tạp chí Ban Tuyên giáo Trung ương

___________________

(1)https://kinhtetrunguong.vn/web/guest/nghien-cuu-trao-doi/danh-gia-tac-dong-cua-chuong-trinh-phuc-hoi-phat-trien-kinh-.html.

(2) https://vneconomy.vn/goi-chinh-sach-phuc-hoi-kinh-te-350-nghin-ty-de-xay-ra-lang-phi-la-co-loi-voi-dan.htm.

(3) Khoản 5 Điều 1 Nghị quyết 43/2022/QH15.